Overblog
Editer l'article Suivre ce blog Administration + Créer mon blog
21 juin 2010 1 21 /06 /juin /2010 09:02

Ôn Tễ diệu phương

 

Tứ Nghịch Thang

( Thương hàn luận )

Thành phần:

Thục Phụ tử 10 - 20g

Chích thảo 4 - 8g

Can khương 8 - 12g

 

 

Cách dùng: sắc nước uống.

Tác dụng: Hồi dương cứu nghịch.

 

Giải thích bài thuốc:

Thục Phụ tử tính vị cay, đại nhiệt, ôn phát dương phát dương khí, khu tán hàn tà là chủ dược.
Can khương ôn trung tán hàn hợp với Phụ tử gia tăng tác dụng hồi dương.
Chích thảo ôn dưỡng dương khí làm giảm bớt tính cay nóng của Khương, Phụ.

 


Ứng dụng lâm sàng:

Bài thuốc trị các chứng bệnh ở Thiếu âm dương khí suy kiệt âm hàn nội thịnh sinh ra chân tay quyết lạnh, nằm co sợ lạnh, tinh thần mỏi mệt thích nằm hoặc đại tiện lỏng nước trong, bụng đau lạnh, miệng nhạt không khát, lưỡi tái rêu trắng, mạch trầm vi khó bắt hoặc do chứng dùng thuốc phát hãn quá mạnh gây nên chứng vong dương, bệnh tùy nặng nhẹ mà sử dụng bài thuốc có gia giảm.

Trường hợp chân tay quyết lạnh do chứng tiêu chảy nặng do mất nước âm dịch suy vong nên dùng bài thuốc gia thêm Nhân sâm gọi là bài TỨ NGHỊCH NHÂN SÂM THANG để hồi dương cứu âm.
Trường hợp bệnh Thiếu âm tả lî chân tay quyết lạnh, mạch vi khó bắt, dùng bài Tứ nghịch thang bội Can khương gọi là bài THÔNG MẠCH TỨ NGHỊCH THANG ( Thương hàn luận) để ôn lý, thông dương mạnh hơn.
Trường hợp bệnh thiếu âm hạ lợi, chân tay quyết nghịch, mặt đỏ, mạch vi là chứng âm hàn thịnh ở dưới, bức hư xông lên có thể dùng Tứ nghịch thang gia Thông bạch bỏ Cam thảo gọi là bài BẠCH THÔNG THANG ( Thông hàn luận ) để thông dương phục mạch.
Trường hợp hạ lợi không cầm, mặt đỏ, nôn khan, bứt rứt chân tay, quyết nghịch, mạch không bắt được dùng Bạch thông thang gia thêm nước tiểu người, nước mật heo gọi là bài BẠCH THÔNG GIA CHƯ ĐẢM THANG ( Thương hàn luận).

 

 

 

 

Phuong tê

-Thành phần:    

 Phụ tử      2-4 đc

 Can khương          1-2 đc

 Cam thảo   1-2 đc .

 

 

- Cách dùng: Nhất loạt ngày uống 1 tễ, sắc với nước, chia làm 2 lần uống.

- Công dụng: Hồi dương cứu nghịch, ôn trung chỉ tả.

- Chủ trị: Âm hàn thịnh ở trong, dương khí suy vi, tứ chi nghịch lạnh, ỉa ra cốc (thức ăn cơm gạo), nát, hoặc ra mồ hôi lạnh, nôn mửa đau bụng, mạch trầm hoặc nhỏ như tơ muốn đứt, rêu lưỡi trắng trơn.

 

 

- Giải nghĩa của phương: Phương này là phương tễ đại biểu của hồi dương cứu nghịch. Phụ tử cay nhiều nóng nhiều, là yếu dược hồi dương khử hàn, tác dụng ở toàn thân, là sức nhanh chóng mà chẳng ở lâu. Can khương ôn trung án hàn, tác dụng ở trường vị, đánh mạnh (cường kình) mà giữ lâu. Do đó, tiền nhân nói rằng: “Phụ tử chạy mà không giữ, Can khương giữ mà không chạy” (Phụ tử tẩu nhi bất thủ, Can khương thủ nhi bất tẩu), hai thứ thuốc cùng phối thì tác dụng hồi dương càng rõ thêm. Cam thảo cam hoãn, nói chung có tác dụng tư dưỡng âm dịch, có thể hòa hoãn tính mạnh mẽ của Khương, Phụ, phát huy thêm tác dụng hồi dương cố thoát. “Thương hàn luận” cấp cứu vong dương, thường lấy Tứ nghịch thang làm chủ phương. Trước hết là đi ỉa dễ mà dẫn đến vong dương thì ứng dụng rất nhiều. Phương này cùng dùng Khương Phụ đối với chứng ỉa dễ mà vong dương tự nó càng thích hợp.

Nếu thấy mặt hồng, vật vã là chứng “chân hàn giả nhiệt”, khi uống dùng phương này nên để mát thuốc mà uống là hợp, đó là nói: “Trị hàn dĩ nhiệt, lương nhi hành chi”. Không thế thì có thể ngược lại tăng táo ở trên có lúc sẽ đến mức miệng mũi ra máu.

- Cách gia giảm thường dùng: Tứ nghịch gia Nhân sâm thang là phương này gia Nhan sâm, trị dương khí suy vi, khí huyết đều suy, sợ lạnh, mạch vi, gia Nhân sâm để ích khí huyết mà mạch trở lại. Lại gia Thục địa, Đương quy tên là Lục vị hồi dương ẩm trị bệnh nhiệt tích trong đó âm dịch hao tổn trước, vong dương sau, cho nên ở trong hồi dương cứu nghịch thêm Đương quy, Thục địa để giúp âm dịch.

 

 

 

Đương quy Tứ Nghịch Thang

Thành phần và phân lượng:

Đương quy 3-4g, Quế chi 3-4g, Thược dược 3-4g, Mộc thông 2-3g, Đại táo 3-6,5g, Tế tân 2-3g, Cam thảo 2-2,5g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Trị các chứng cước, đau vùng bụng dưới, đau vùng thắt lưng, ỉa chảy, đau khi có kinh, chứng lạnh ở những người chân tay lạnh.

 

 

Giải thích:

Theo sách Thương hàn luận: Đây là bài thuốc gia giảm của Quế chi thang, bỏ Sinh khương, thêm Đại táo, Đương quy, Tế tân, Mộc thông. Cũng có thể coi đây là bài thuốc gia giảm của Đương quy kiến trung thang. Thuốc dùng trị tình trạng tuần hoàn máu bị cản trở do hư hàn ở bên ngoài (chẳng hạn như bệnh cước khí, sán thống v.v...).

Theo các tài liệu tham khảo khác: Đối tượng của bài thuốc này là những người chân tay bị lạnh, mạch tế. Thuốc còn dùng cho những người khi chân tay bị lạnh là hơi ứ lại trong bụng làm cho bụng đau, tức là những người mà người xưa gọi là bụng sán khí (sán khí phúc). Bài thuốc này cũng rất tốt đối với chứng cước, đau thần kinh hông, sán thống ruột, viêm phúc mạc mạn tính, thoát tử cung, đau bụng do tử cung và các phần phụ.

Cần phải xem đây là bài thuốc gia giảm của Đương quy kiến trung thang, đối tượng của nó là những người "bị lạnh chân tay, mạch tế". Bài thuốc này dùng cho chứng mà người xưa gọi là sán khí, tức là phần bụng nhìn chung là hư mãn, cơ thẳng bụng của bụng cǎng, sờ vào bụng thì thấy phía ngoài bụng có vật chướng, song ấn tay xuống thì chỗ đó mềm, hơi dễ ứ lại trong bụng.

Sách Y thánh phương cách viết: "Những người bị thoát huyết (gọi chung tất cả những người thất thoát dịch phân) thức ǎn thức uống ứ lại ở vùng bụng trên, đầu đau hoặc toàn thân đau thì phải dùng Đương quy tứ nghịch thang".

Partager cet article
Repost0

commentaires