Overblog
Editer l'article Suivre ce blog Administration + Créer mon blog
15 juin 2010 2 15 /06 /juin /2010 08:10

Tứ vật thang
 
Bài thuốc này dành cho người bị huyết hư gây thiếu máu, mắt vàng hoặc bớt đen, hâm hấp sốt, lòng bàn chân nóng, da xanh, gầy yếu; mặt nổi trứng cá, ngứa ngáy. Nó cũng có tác dụng đối với các vấn đề về kinh nguyệt, lao tâm, suy nghĩ hại đến nhan sắc.

 


Bài Tứ vật thang gồm 4 vị: xuyên khung (8 g) và đương quy (12 g) có tính động là dương; thục địa (12 g) và bạch thược (8 g) có tính tĩnh là âm. Âm - dương phụ trợ, bổ túc cho nhau. Tùy theo bệnh, có thể gia giảm cho thích hợp. Theo Hải Thượng Lãn Ông, nên gia giảm như sau:

- Máu nóng ở gan (mặt nổi mụn): Thêm vị điều cầm (thứ hoàng cầm thật nhỏ) 6 g.

- Người gầy có đờm: Thêm chi tử, tri mẫu, hoàng bá (tất cả đều sao đen) 4 g.

- Người béo có đờm: Thêm nam tinh, bán hạ mỗi thứ 6 g.

- Huyết ứ: Thêm hồng hoa, đào nhân mỗi thứ 4 g.

- Phiền táo khó ngủ, khát nước, phát sốt: Thêm chi tử, hoàng liên mỗi thứ 4 g, tăng vị bạch thược lên, bỏ xuyên khung.

- Kinh nguyệt bế đã lâu: Thêm quế tốt, cam thảo, hoàng kỳ, khương hoạt, hồng hoa, mộc thông mỗi thứ 4 g.

- Kinh nguyệt ra rỉ rả nhiều tháng: Thêm hoàng kỳ 8 g, a giao, tục đoạn, bách diệp đều sao đen mỗi thứ 4 g.

- Trừ huyết cũ, sinh huyết mới: Thêm cam thảo rồi tán nhỏ hoàn viên với mật mà chiêu bằng giấm thanh.

Cách chế: Xuyên khung, đương quy, bạch thược, cam thảo phơi khô, tán mịn. Thục địa tẩm rượu, giã nát, chưng mật ong vừa chín tới. Trộn các vị, viên bằng ngón cái, ngày dùng 3-4 lần, mỗi lần 2 viên.

Theo kinh nghiệm của nhiều lương y, ngoài làm viên, có thể dùng các vị trên sắc uống. Dùng lâu chân huyết sẽ đầy đủ, da dẻ tươi mát, ngăn ngừa được nhiều bệnh. Nếu có điều kiện, nên kết hợp với một số phương pháp khác để thêm phần hữu hiệu như: bơi lội, tập thể dục.

(Sức Khỏe & Đời Sống)

 

 

Sach  Hòa tể cục phương :

Thành phần:

Thục địa hoàng 12 - 24g

Bạch thược 12 - 16g

Đương qui 12 - 16g

Xuyên khung 6 - 8g

 

 

Cách dùng: sắc nước uống.

Tác dụng: Bổ huyết điều huyết, hoạt huyết điều kinh.

 

Giải thích bài thuốc:

Theo sách cổ đây là bài thuốc chuyên về điều huyết can kinh, trị chứng huyết hư huyết ứ sinh ra đau kinh, kinh nguyệt không đều. Trong bài:

Thục địa tư thận bổ huyết dưỡng bào cung là chủ dược.
Đương qui bổ dưỡng can huyết, hoạt huyết điều kinh.
Bạch thược dưỡng huyết hòa can.
Xuyên khung hoạt huyết hành khí sơ thông kinh mạch.
Các vị thuốc cùng dùng thành một bài thuốc có tác dụng bổ huyết điều huyết, trị các chứng huyết hư huyết trệ.

 

 

Ứng dụng lâm sàng:

Bài thuốc được dùng nhiều chữa các chứng bệnh phụ nữ kinh nguyệt không đều, đau kinh, tắt kinh cùng nhiều bệnh khác có hội chứng huyết hư.
Trường hợp huyết hư kiêm khí hư gia Đảng sâm, Hoàng kỳ để bổ khí sinh huyết.
Trường hợp có ứ huyết gia thêm Đào nhân, Hồng hoa ( là bài Đào hồng Tứ vật), để hoạt huyết khu ứ.
Trường hợp huyết có hàn gia Nhục quế, Bào khương để ôn dưỡng huyết mạch.
Nếu huyết hư sinh nội nhiệt gia Liên kiều, Hoàng cầm, Đơn bì dùng Sinh địa thay Thục địa để thanh nhiệt lương huyết.
Trường hợp huyết hư có chảy máu bỏ Xuyên khung gia A giao, Hoa hòe, Tông lư than để chỉ huyết.
Trường hợp huyết hư trệ, đau kinh gia Hương phụ chế, Uất kim để hành khí giải uất, điều kinh chỉ thống.
Trường hợp huyết hư đau đầu, váng đầu gia Bạch chỉ, Cảo bản để khu phong chỉ thống.
Trên lâm sàng có báo cáo dùng Tứ vật thang để chữa chứng mày đay, có kết quả tốt.

 

 


Phụ phương:

GIAO NGÃI THANG

( Kim quy yếu lược)

Thành phần:

Xuyên khung 8 - 12g

Đương qui 8 - 12g

Bạch thược 12 - 16g

Can địa hoàng 12 - 16g

A giao 8 - 12g

Ngãi diệp 8 - 12g

Cam thảo 4 - 6g

Cách dùng: sắc nước uống.

Tác dụng: bổ huyết điều kinh, an thai, trị băng lậu.

Chủ trị: Thường dùng chữa các chứng huyết hư hàn trệ, bụng dưới đau, kinh nguyệt kéo dài lượng nhiều, động thai, băng lậu sau đẻ ra huyết kéo dài.

Đây là một bài thuốc gồm bài Tứ vật gia A giao, Ngãi diệp, Cam thảo. Chủ yếu trị chứng băng lậu và động thai.

 

 

 

QUY TỲ THANG 
Thành phần và phân lượng: Nhân sâm 2-3g, Bạch truật 2-3g, Phục linh 2-3g, Toan táo nhân 2-3g, Long nhãn nhục 2-3g, Hoàng kỳ 2-3g, Đương quy 2,0g, Viễn chí 1-2g, Cam thảo 1,0g, Mộc hương 1,0g, Đại táo 1-2g, Can sinh khương 1-1,5g.

 

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Trị các chứng thiếu máu, mất ngủ ở những người thể chất hư nhược, huyết sắc kém.

Giải thích:

Theo Tế sinh phương: Bài thuốc này dùng cho những người hư yếu, thể lực bị giảm sút, sắc mặt kém, thiếu máu, tinh thần bất an, đánh trống ngực dồn dập, hay quên, đêm ít ngủ, chỉ lo nghĩ vẩn vơ, hoặc bị sốt, đổ mồ hôi trộm, hoặc trái lại, ngủ li bì, chân tay mệt mỏi, đại tiện có chiều hướng khó, ở phụ nữ thì kinh nguyệt thất thường. Thuốc này cũng dùng cho những người hay lo nghĩ nhiều, hoặc bị hạ huyết, thổ huyết và xuất huyết.

Vốn dĩ đây là bài thuốc dùng cho những người thể chất hư nhược, vị tràng yếu bị các loại xuất huyết dẫn đến thiếu máu, hay quên và các chứng thần kinh do lao lực lao tâm quá nhiều.

Theo Chẩn liệu y điển: Dùng trong các trường hợp xuất huyết, như chảy máu ruột, chảy máu tử cung, loét dạ dày, đái ra máu, v.v... Ngoài ra, bài thuốc này còn được ứng dụng trong các trường hợp thiếu máu, hay quên, mất ngủ, đánh trống ngực dồn dập do thần kinh, ǎn uống không ngon miệng, kinh nguyệt thất thường, hysteria, thần kinh suy nhược, di tinh, lậu mạn tính, tràng nhạc mưng loét.

Theo Thực tế trị liệu: Dùng cho những người hư chứng, thể lực cũng như khí lực đều suy nhược.

 

 

 

Tế sinh phương

Thành phần:

Nhân sâm ( Đảng sâm) 12g

Phục thần 12g

Toan táo nhân sao 12 - 20g

Viễn chí 4 - 6g

Hoàng kỳ 12g

Mộc hương 4g

Bạch truật 12g

Long nhãn nhục 12g

Đương qui 8 - 12g

Chích thảo 4g

Sinh khương 3 lát

Đại táo 2 - 3 quả

 

 

Cách dùng: sắc nước uống. Có thể hòa với mật làm thành hoàn, mỗi lần uống 8 - 12g.

Tác dụng: Kiện tỳ dưỡng tâm, ích khí bổ huyết.

Giải thích bài thuốc:

Bài này gồm 2 bài "Tứ quân tử thang" và " Đương qui bổ huyết thang" gia Long nhãn nhục, Toan táo nhân, Viễn chí, Mộc hương, Đại táo là 1 bài thuốc thường dùng để trị chứng tâm tỳ hư tổn. Trong bài:

Sâm Linh Truật Thảo ( Tứ quân) bổ khí kiện tỳ để sinh huyết là chủ dược.
Đương qui, Hoàng kỳ bổ khí sinh huyết.
Long nhãn, Táo nhân, Viễn chí dưỡng tâm an thần.
Mộc hương lý khí ôn tỳ.
Sinh khương, Đại táo điều hòa vinh vệ.
Các vị thuốc hợp lại có tác dụng ích khí kiện tỳ bổ huyết dưỡng tâm.

Ứng dụng lâm sàng:

Bài thuốc này chủ yếu trị các bệnh suy nhược có hội chứng bệnh lý tâm tỳ lưỡng hư, khí huyết bất túc sinh ra các triệu chứng mất ngủ, chán ăn, hay quên, tim hồi hộp, cơ thể mỏi mệt, sắc mặt vàng bủng, môi lưỡi nhợt, mạch yếu thường gặp trong các chứng suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh.
Trường hợp xuất huyết trong bệnh lóet dạ dày tá tràng có hội chứng khí huyết bất túc có thể dùng bài này để chữa; bỏ các vị Mộc hương, Viễn chí gia A giao, Địa du, Trắc bá diệp, Hoa hòe để tăng cường tác dụng chỉ huyết.
Trường hợp phụ nữ kinh kéo dài hoặc sanh nhiều cơ thể suy nhược hoặc sau khi mắc bệnh lâu, thời kỳ hồi phục ăn ngủ không ngon, cơ thể hư nhược đều có thể dùng bài này để chữa có kết quả tốt.

 


Phụ phương:

DƯỠNG VINH QUY TỲ THANG

( Hải thượng Y tôn tâm lĩnh)

Thành phần:

Thục địa 20 - 30g

Táo nhân 4g

Phục linh 6g

Ngưu tất 8g

Mạch môn ( sao với gạo) 8g

Bạch truật 12g

Bạch thược 4 - 8g

Ngũ vị tử 6 - 8g

Nhục quế 3 - 4g

Tác dụng: Chữa tất cả các chứng lao thương phát sốt ho, thổ huyết, hâm hấp sốt, biếng ăn, mỏi mệt, mạch thốn, hồng xích, nhược. Đây là bài thuốc chủ yếu chữa khí huyết hư tổn.

 

 

ĐẠI BỒ TÂM TỲ KHÍ HUYẾT PHƯƠNG

( Hải thượng Y tôn tâm lĩnh)

Thành phần:

Táo nhân, Đương qui, Bạch truật, Bạch thược, Phục thần, Nhân sâm, Viễn chí, Nhục quế, Ngũ vị ( tác giả không ghi liều lượng).

Cách dùng: sắc nước uống khi còn ấm.

Chủ trị: chứng nguyên khí đại hư, đột nhiên ngã lăn ra, sinh ra chứng thoát nên uống bài này cùng vớ Bát vị hoàn để vừa bổ thủy hỏa để sinh khí vừa bổ âm để sinh huyết.

Partager cet article
Repost0

commentaires